CÁCH DẠY NGƯỜI LỚN HỌC MỘT NGOẠI NGỮ MỚI

24/07/2020

Nếu bạn được giao nhiệm vụ dạy cho người trưởng thành  học một ngôn ngữ mới hoàn toàn khác với ngôn ngữ họ đã biết, từ những lý thuyết trên giấy về việc dạy cho một người trưởng thành cùng với những kinh nghiệm được đúc kết từ quá trình giảng dạy bạn hoàn toàn có thể biến những nỗ lực đó trở nên thành công và gây hứng thú cho những người tham gia.

PHẦN 1. XÂY DỰNG SỨC MẠNH GIAO TIẾP

giao tiếp giúp ích cho việc học ngôn ngữ mới

1. XEM XÉT CÁC RÀO CẢN KHI MỘT NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TIẾP THU NGÔN NGỮ MỚI.

Thường thì, trẻ em sẽ  là lứa tuổi dễ dàng nhất trong việc tiếp thu ngôn ngữ mới so với lứa tuổi thanh thiếu niên và người trưởng thành. Để giải thích cho việc này có rất nhiều lí do.

  • Trẻ nhỏ có xu hướng giỏi hơn người lớn trong việc chọn ngôn ngữ để nói thông qua tiếp xúc đơn giản. Một số nghiên cứu cho rằng kỹ năng này sẽ bị mất trong khoảng từ 12 đến 14 tuổi. Vì khi đó não bộ phân bổ lại các nguồn lực quý giá của mình sang các lĩnh vực quan trọng khác. Về lý thuyết thì bạn có khả năng đã học được cách giao tiếp vào thời điểm đó. Do đó bạn không còn cần phải sử dụng sức mạnh não bộ đáng kể để học một ngôn ngữ mới.
  • Thay đổi chức năng liên quan tới khả năng tiếp thu ngôn ngữ ở não bộ có ảnh hưởng gì không? Đặc biệt là đối với người lớn cần phải tiếp thu một ngôn ngữ mới? Điều này không chắc chắn vì người trưởng thành có xu hướng bận rộn hơn, căng thẳng hơn. Ho thường ít tập trung vào việc tiếp thu ngôn ngữ thay vì dồn toàn lực vào nó. Người lớn phải học những giả định, quy ước, quan điểm, thành kiến và thói quen. Tất cả những thứ đó đều yêu cầu kinh nghiệm thông qua ngôn ngữ bản địa. Và để giúp phát triển năng lực giao tiếp của người học ngôn ngữ thứ hai bằng những kinh nghiệm sẵn có thì sẽ vô cùng khó khăn.

2. ĐÁNH GIÁ VÀ HỖ TRỢ ,THÚC ĐẨY ĐỘNG LỰC CỦA NGƯỜI HỌC.

Với bất kỳ kỹ năng, tài năng hoặc khả năng mong muốn nào, việc có một mục tiêu rõ ràng trong tư tưởng sẽ khiến quá trình chinh phục trở nên dễ quản lý hơn. Điều tương tự cũng đúng đối với việc tiếp thu ngôn ngữ.

  • Người giáo viên phải tạo động lực và xác định được mục tiêu học cho học viên lớn tuổi. Mục tiêu đó phải rõ ràng, ngắn hạn và nếu được tại sao họ muốn học một ngoại ngữ. Thay vì thúc đẩy việc học ngôn ngữ có lợi cho bản thân vì việc đó quá hiển nhiên, hãy giúp họ tập trung vào mong muốn kết nối sâu sắc hơn hoặc chuẩn bị cho một chuyến đi dài được chờ đợi ở nước ngoài.
  • Khi bạn giúp học sinh tìm thấy động lực, hãy biến nó thành các nhiệm vụ phải được hoàn thành. Ví dụ, đưa ra một dự án liên quan đến việc phỏng vấn ông bà bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (và thứ hai của học viên). Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng động lực của học sinh sẽ thay đổi theo từng lớp và từng cường độ khác nhau. Vì vậy hãy đưa ra những ích lợi khi đạt điểm cao và khuyến khích những người thấp hơn.

3. TẠO ĐIỀU KIỆN CHO HỌC VIÊN TƯƠNG TÁC.

Các học sinh trong lớp cũng có thể có những ý kiến trái chiều đối với khả năng học ngôn ngữ mới của nhau. Sự tương tác giữa người học và người học có xu hướng giúp cả hai bên nhận thấy khoảng cách và lỗ hổng giao tiếp của họ trong ngôn ngữ và tình huống thực tế.

Đề ra các nhiệm vụ cho người học, chẳng hạn như để một học sinh mô tả một bức tranh bằng tiếng nước ngoài cho người khác. Đầu tiên thì học viên đó phải người phải vẽ nó. Điều đó thú vị và hữu ích khi giúp học sinh làm việc thông qua các lỗ hổng trong khả năng hiểu biết của họ. Mặc dù hoạt động như vậy thì không cần phải thay thế các phương pháp giảng dạy truyền thống. Tuy nhiên những phương pháp giảng dạy gián tiếp các ngôn ngữ mới này ít nhất cũng mang tới hiệu quả trong việc truyền đạt học viên trong thời gian dài.

4. XÂY DỰNG VỐN TỪ VỰNG MỘT CÁCH TRỰC TIẾP VÀ TÌNH CỜ.

Người ta ước tính rằng một người trưởng thành cần phải hiểu khoảng 3.000 cụm từ (ví dụ, think, thought và thought trong một cụm từ) để có thể hiểu một ngôn ngữ mới trong từng ngữ cảnh.

  • Các phương pháp xây dựng từ vựng truyền thống như ghi nhớ, diễn tập và viết bảng. Và những phương pháp này vẫn có thể được sử dụng thành công trong lớp học. Tuy nhiên, đơn giản khuyến khích học sinh đọc các đoạn văn phù hợp và thú vị đối với họ ngay cả trong lớp học và ở nhà. Và có thể coi đây là một chiến lược hiệu quả giúp tăng nhanh vốn từ vựng hiệu quả.
  • Điều này đặc biệt đúng khi các bài đọc được đi kèm với các hoạt động ghi nhớ từ vựng. Các trò chơi như Bingo, Password và Concentration có thể tạo điều kiện cho người học ghi nhớ từ bằng việc tiếp thu từ mới một cách chủ động, trực tiếp. Người chơi có thể giải quyết vấn đề theo định hướng nhiệm vụ để ghi nhớ từ vựng ngẫu nhiên trên mạng và về bản chất. Học sinh chọn những từ mới mà không nhận ra, lặp lại và ghi nhớ.

5. HÃY LINH HOẠT.

  • Có nhiều người muốn bắt đọc học ngoại ngữ mới và cũng có rất nhiều cách hay để học .Một số người thậm chí còn nói rằng ngoại ngữ không thể được dạy, chỉ được học. Ngụ ý rằng đối mỗi người học ngoại ngữ thì bản thân họ phải có những động lực cũng như kĩ năng riêng biệt giúp hỗ trợ việc học trở nên dễ dàng hơn.
  • Mỗi khi bạn dạy một học sinh mới hoặc lớp mới, bạn sẽ cần phải điều chỉnh lại  phương pháp dạy học của mình. Đảm bảo rằng đối với từng học viên khác nhau nhưng hiệu quả bạn muốn truyền tải là như nhau. Hãy linh hoạt và sẵn sàng làm việc với những học viên lớn tuổi. Để rút ra được những lý thuyết, chiến lược và lời khuyên thực tế từ hiệu quả làm việc.

PHẦN 2. LÀM QUEN VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP LÝ THUYẾT

1. SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI.

Cho dù bạn đã học một ngôn ngữ thứ hai bằng cách luyện tập, flashcards và học lặp lại như một chú vẹt. Hay thậm chí là bằng cách đi du lịch nước ngoài vào mùa hè. Có thể một trong những phương pháp đó bạn đã từng thử qua. Nhưng tìm ra nguyên lý của các phương pháp trên sẽ giúp bạn xây dựng được chiến lược giảng dạy ngoại ngữ cho người trưởng thành.

  • Từ thời Hy Lạp cổ đại cho đến thế kỷ trước, các ngôn ngữ mới hầu như luôn được dạy bởi một phương pháp truyền thống được gọi là phương pháp ‘ngữ thanh’. Nếu như lớp học tiếng Pháp  của bạn ở trường cấp ba của bạn bao gồm các phương pháp như là học vẹt, lặp lại, nói và kiểm tra viết. Hầu như đều nhấn mạnh vào ngữ pháp và dịch thuật, và sửa lỗi bởi giáo viên.  Chắc hẳn bạn rất quen thuộc với phương pháp này.
  • Trong nửa thế kỷ gần đây, tiếp cận với ngôn ngữ một cách tự nhiên hơn đã dần chiếm ưu thế. Phương pháp này phỏng theo trình tự quá trình học ngôn ngữ từ bé đến lớn của bạn. Học một ngôn ngữ mới thông qua việc hòa nhập, chơi và làm các công việc. Hay sử dụng liên tục trong môi trường ít áp lực và nhấn mạnh vào ngữ pháp và từ vựng một cách gián tiếp.

2. XEM NHỮNG ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CÓ THỂ CÓ VỚI NHỮNG CÁI NHÌN MỚI HƠN.

Các phương pháp hiện đại và tự nhiên khuyến khích người học có thể học và bắt đầu luyện tập các ngôn ngữ khác một cách tự nhiên. Khi đó họ không cần đến danh sách từ vựng dài, những bài học ngữ pháp nhàm chán. Do đó, đặc biệt với những người trưởng thành muốn học một ngoại ngữ mới, thì những điều trên gây nhàm chán thậm chí là phiền toái nữa

  • Các phương pháp học tập dựa trên tiêu chí là phải hoàn thành xong những nhiệm vụ được giao. Đây được xem như bước nền giúp cho học viên có thể thực hành sử dụng ngôn ngữ bằng từ vựng và ngữ pháp đã được học để giao tiếp với bạn học. Điều này bước đầu có thể gây khó khăn cho người học. Tuy nhiên nó được xem là một phần không thể thiếu trong tiến trình học của mỗi học viên.
  • Tuy nhiên, các nhà phê bình nói rằng khi đưa ra các bài tập giáo viên không thể để cho học sinh mình toàn quyền giải quyết được. Giáo viên phải đưa ra những hướng dẫn cụ thể và giải thích cho các bài tập. Ví dụ như là ngữ pháp nào là rất quan trọng, cho dù nó ít thú vị đi chăng nữa.

3. ĐỪNG BỎ QUA CÁC PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG.

Bất chấp những chỉ trích về phương pháp truyền thống đã trở nên  quá đỗi nhàm chán và lỗi thời. Nhưng có một lý do tại sao các phương pháp cổ điển vẫn được dùng từ xưa đến nay. Ngay cả khi thế giới trở nên hiện đại hơn và có nhiều phương pháp học mới ra đời, thì những người giáo viên vẫn duy trì phương pháp này trong lớp học.

  • Sự chú trọng đối với ngôn ngữ bằng phương pháp nghe-nói là về việc hình thành thói quen. Bắt chước, ghi nhớ và lặp lại có thể mang lại cảm giác rõ ràng hơn cho người học  về các mục tiêu, quy trình và thành tích về những bài học. Tương tự, việc tập trung vào ngữ pháp và dịch thuật, sẽ được hướng dẫn bằng tiếng mẹ đẻ. Điều có thể xây dựng nên các kỹ năng thiết yếu mà một số người học trưởng thành muốn tiếp thu.
  • Điều đó có nghĩa là các phương pháp truyền thống sẽ làm cho học viên người lớn như quay về thời học sinh. Cảm giác đó dễ làm họ chán nản, mất động lực tiếp tục học.  Đây là lý do tại sao sự đa dạng và linh hoạt trong phương pháp giảng dạy là rất cần thiết.

4. TÌM SỰ CÂN BẰNG PHÙ HỢP.

Đối với tất cả các giá trị cốt lõi của việc hiểu các lý thuyết, việc học thông qua các bài học thực tế hay nói cách khác là thông qua thực hành. Việc dạy người lớn ngoại ngữ đòi hỏi bạn phải thành thạo ngôn ngữ như người bản địa. Bên cạnh đó bạn phải hiểu rõ về nền tảng, động lực, mục tiêu, cách học và nhu cầu học tập của học sinh hướng tới.

Nếu nói giữ các phương pháp truyền thống chỉ vì nó đã được dùng nhiều thì không thỏa đáng. Tuy vậy, chúng ta cũng không phải là xóa bỏ hết cái cũ mà dành hết sự ưu ái cho những phương pháp mới thịnh hành hơn. Tùy thuộc vào bạn, vào giáo viên mà phương pháp dạy ngôn ngữ sẽ khác nhau.  Lựa chọn hoạt động nào, phương thức nào sẽ giúp lớp học đạt được kết quả tốt nhất thì do bạn quyết định.

PHẦN 3. HÃY THỬ TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC NHAU TRONG LỚP HỌC.

1.HÃY COI HỌC VIÊN TRƯỞNG THÀNH CỦA BẠN NHƯ MỘT EM BÉ.

Học một ngôn ngữ mới có thể là kỷ niệm không mấy vui vẻ đối với nhiều người trưởng thành. Điều này khiến họ cảm thấy như là một đứa trẻ con khó khăn đưa ra một lựa chọn mới. Hoạt động này phải được xây dựng trên những mặt tích cực để cho những học viên đã trưởng thành cảm thấy hứng thú về phương pháp mới này cũng như tích cực hưởng ứng theo.

  • Hầu hết người lớn thích hồi tưởng về thời thơ ấu và niên thiếu của mình. Hãy để học viên của bạn chọn một cuốn sách viết cho trẻ em có sẵn bằng tiếng nước ngoài mà họ thích. Và đem cuốn sách đó lên và đọc cùng nhau trong lớp. Tuy nghe có vẻ cũ nhưng thật ra là rất mới mẻ. Thậm chí còn mang lại niềm vui và thử thách đối với học sinh.
  • Hoặc có thể là cùng nhau nghe các bài hát, thậm chí hát với nhau trong lớp học. Có thể dùng những vần thơ, bài hát ru quen thuộc bằng tiếng nước ngoài. Sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ trong từng câu chữ có thể mở mang hiểu biết của hoc viên khi tiếp xúc mới một ngôn ngữ mới.

2. TẠO ĐIỀU KIỆN CHO HỌC VIÊN CÙNG TIẾN.

học ngôn ngữ mới

Hầu hết các học viên trưởng thành khi bắt đầu một ngôn ngữ mới sẽ tìm thấy sự cảm thông, đồng cảm với các bạn cùng lớp. Từ đó sẽ muốn giúp đỡ chia sẻ kinh nghiệm cho nhau và cùng học tập tốt hơn.  Với những chia sẻ khác nhau, họ kiếm thêm kinh nghiệm làm hành trang riêng cho bản thân.

  • Một hoạt động tiêu biểu gây hứng thú đối với các học viên đã được đề cập phía trên. Đó là hoạt động cho học sinh mô tả một bức tranh bằng tiếng nước ngoài cho người khác. Và họ phải là người phải vẽ bức tranh. Một hình thức khác của hoạt động này là học viên cùng nhau thực hiện “truyền bí mật xuống dòng”. Luật chơi là giúp học sinh phải dùng những từ thay thế đồng nghĩa. Phải đảm bảo rằng khi dòng chữ được truyền tới người cuối thì nghĩa của câu không thay đổi.
  • Thậm chí chỉ đơn giản là khuyến khích học viên của bạn lắng nghe nhau một cách cẩn thận. Bạn phải lắng nghe những vướng mắc của từng học viên và vấn đề của chọ. Để có thể đưa ra những lời khuyên hữu ích và kịp thời cho họ. Việc này sẽ giúp học viên thêm tự tin cũng như tích lũy được những kinh nghiệm quý báu.

3. KHUYẾN KHÍCH HỌC VIÊN BẰNG PHẦN THƯỞNG KHI HỌ ĐẠT ĐƯỢC MỤC TIÊU ĐÃ ĐỀ RA.

Không giống như nhiều học sinh nhí, những học viên trưởng thành thường có một mục tiêu cụ thể trong đầu. Bởi vì họ muốn học ngoại ngữ thường để phục vụ công việc của mình. Và các hoạt động trao thưởng tạo động lực giúp học viên đạt được mục tiêu dễ dàng hơn.

  • Nếu học sinh trưởng thành của bạn có mong muốn làm việc hay định cư ở nước ngoài.  Đồng thời họ có thể bắt đầu học ngay từ bây giờ và sẵn sàng học. Người giáo viên phải thử cân nhắc việc chiếu các chương trình thực tế bằng ngôn ngữ mà đang học mà không có phụ đề. Những chương trình ấy sẽ giúp học viên có cái nhìn cách trực tiếp những cuộc hội thoại. Đồng thời cũng như tốc độ nói của người bản ngữ trong cuộc sống hàng ngày. Nhất là khi họ có ý định bắt đầu một cuộc sống mới ở nước ngoài
  • Có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi nhà hàng, cho họ là những người khách hàng. Khi bước chân vào nhà hàng ở một đất nước khác thì bạn sẽ nói gì. Và khi họ áp dụng tốt các bài học về chủ đề này thì sẽ nhận phần thưởng xứng đáng. Cho dù học viên là người trưởng thành đi chăng nữa, thì được trao phần thưởng vẫn hấp dẫn họ. Và chúng đồng thời cũng tăng động lực cho họ không kém gì học viên nhỏ tuổi.

4. ĐỪNG BỎ QUA CÔNG VIỆC.

Lớp học dành cho những người trưởng thành không giống với lớp học dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Không cần phải tổ chức những trò chơi liên tục để tạo không khí và thu hút sự chú ý. Điểm khác ở đây là trước khi bắt đầu học, họ đã nhắm tới là có thể học được những phương pháp hay. Để từ đó giúp họ đạt được mục tiêu đã đề ra.

  • Một số phương pháp truyền thống một phần không được ưa chuộng lại có thể có hiệu quả hơn đối với người học trưởng thành. Đặc biệt là những người lớn có động lực tự học ngôn ngữ mới. Họ sẵn sàng ghi chú và ôn tập các từ vựng thông qua flashcard.
  • Về việc ghi chú, hoạt động này khuyến khích học sinh viết ra những từ cần thiết, có ích. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi bạn bắt đầu học một thứ gì đó. Viết ra những từ đó sẽ giúp não bộ ghi nhớ tốt và lâu hơn gõ ra máy tính. Trên thực tế, việc gõ chữ sẽ ít có tác động vào não bộ hơn là viết bằng tay. Khi viết tay, bạn đã tác động não bộ làm việc và ghi nhớ quá trình đó lâu hơn.

Lược dịch từ Wikihow

Tham khảo các khóa học TESOL tại đây.

Tin Tức Khác

ĐĂNG KÝ TƯ VẤN

Bạn cần tư vấn khóa học phù hợp? Hãy liên hệ với chúng tôi




    error: Content is protected !!
    Scroll to Top